
Khả năng này, quái vật cũng có: các con bồ câu nhân thức chọn lựa những ô có rộng rãi giải khát ; các con khỉ, khi được đào tạo, khiến cho toán cộng như người, …
Đếm, đối với con nhỏ từ lúc lên nhì, gần như là một “phản xạ”, là một “nhu cầu”: chúng đếm những cột đèn khi đi con đường, những bậc thang khi leo lên gác, hay những quả banh, hòn bi, … khi chơi đùa. Các bậc cha mẹ hay thầy giáo chỉ cần dựa trên “ý định” đó của trẻ để giúp chúng nhân bội lên và sản xuất những tài năng mà não chúng đã được thiết bị.
Tức thị não của mọi trẻ đều … đã được vũ trang và có khả năng về toán.
Trước đây, một nhà di truyền học, Albert Jacquard đã nói tương tự tương tự “mọi trẻ, lúc chào đời, trừ một thiểu số bị bệnh tật, đều có tiềm năng lanh lợi, môi trường có cho phép những tiềm năng ấy thành lanh lợi thật sự hay không là chuyện khác”. Albert Jacquard đã dựa trên lý luận về di truyền.
Có khác chăng là ông Dehaene xác định dựa trên quan sát não bộ qua các nghiên cứu của ông trong khoảng thập niên 1980 và hiện ông vẫn còn tiếp diễn với một chương trình tài trợ bởi Số đông châu Âu, Humain Brain Project, một chương trình qui tụ hơn 150 kỹ thuật gia của đa dạng nước.
Từ những hiểu nhân thức này, ta không thể bảo rằng có những trẻ bẩm sinh có khiếu về toán. Mà phải nói là tất cả các trẻ đều bẩm sinh có khiếu về toán.
Cho trường hợp của những “thần đồng” mà báo chí hay các công cụ truyền thông khác lại nêu, ông Dehaen cho hai giải thích:
Hoặc đó là những người chỉ nhân thức đếm và có sinh hoạt toán suốt ngày suốt đêm, ông kể chuyện một đứa trẻ chỉ ham mê mò mẫm các cuốn lịch nên có thể giải đáp cho biết ngày trong tuần của bất kỳ ngày tháng 5 nào. Ngoài ra bé dại ấy không nhân thức gì khác.
Hoặc, vì một dị tật trong cấu trúc của não, tư nhân nào đó chỉ có một phần não ở thùy đỉnh phát hành và tiếp theo đó được chính phiên bản thân hay không gian khai thác tối đa để thành “hiện tượng”.
Ông Stanilas Dehaene thể hiện sự quan trọng trên hai từ “làm việc” và “khai thác” trong hai tỉ dụ vừa kể. Chứ không có gì là siêu nhiên – sur naturel.
Tâm thần học, nhất là với máy quét cộng hưởng từ sinh hoạt (IRMf), hiện cho phép định vị và quan sát sinh hoạt của thùy đỉnh não, lobe pariétale, nơi các tế bào tâm thần chuyên toán trú ẩn: chúng rực sáng, qua hình ảnh của máy quét, vì chúng tiêu thụ rộng rãi ôxy và các con phố hơn, khi ta khiến toán.
Nhưng không chỉ cần thùy đỉnh não để làm toán, trẻ, cũng như người lớn, còn cần thân thể, cần công cụ, cần tiếng nói... Ta cần những ngón tay, ta cần những khúc gỗ, cần nắm bắt thế nào là thêm tham gia, bớt đi, phân phối, ta cũng cần một mảnh giấy, cần một bút chì, … hay phức tạp hơn, ta cần một bàn tính của người Tàu (boulier), một máy tính, …
Trong một quyển sách khác, Les neuronnes de la lecture, ông Stanilas Dehaene nhấn mạnh trên vai trò của tài năng đọc-hiểu như là một điều kiện tối quan trọng để tiếp xúc các kiến thức.
Một phương pháp gọn gàng, lúc chào đời, trẻ nào cũng được vũ trang những tài năng về toán, ít nhất là dưới dạng “trực giác” – intuition – , cả những ý niệm sơ khởi về thống kê, xếp loại, về cảm kiếm được không gian và thời gian. Ta có phổ biến những kỹ năng này với những động vật khác. Toàn bộ các loài chim và cầm thú cũng nhiều năm kinh nghiệm cảm nhận và tính toán lắm. Bằng cớ là chúng biết tha mồi về tổ hay về hang, nhân thức phải đi lại khi mùa đông về để trốn cái lạnh, …
Các khái niệm về toán ta đã có đó. Nhưng muốn phát hành ta cần khoa học thêm vào. Các kỹ thuật này nằm trong các bề ngoài dạy toán.
Trước khi bàn về nguyên lý sư phạm, Stanilas Dehaene tư vấn rành rọt rằng máy tính bỏ túi (caculatrice de poche) và máy vi tính (ordinateur) không khiến thui chột kĩ năng về toán của trẻ nếu trẻ biết cách sử dụng các dễ dàng này hầu tích góp “sức” cho những công việc khác, tinh vi hơn. Như thế, ông đánh tan lập luận theo đó trẻ cần học bảng cửu chương để rèn trí nhớ hay để “học” toán.

Dạy toán sai cơ chế ăn hại
Minh họa cho điều này, ông Stanilas Dehaene đưa một ví dụ chi tiết: Khi hỏi “kết quả của 6+5–5”, một em bé xíu 6 tuổi trả lời tốc độ hơn một em 9 tuổi. Vì nhỏ bé đâu dùng kĩ năng tự nhiên còn em thứ hai thì, “chưng học” hơn hay nói phương pháp khác, vì đã bị “sai lệch bởi phố đi bộ”, em làm cho nhì cái tính nhẩm 6 + 5 trước rồi 11 – 5 sau nên mất thời gian hơn.
Thí dụ này cho thấy là tầm thường các thầy giáo không nhân thức “khai thác”, không “dựa” trên những khả năng vốn có của trẻ để dạy toán cho chúng. Thế là các giáo viên … vô tình xóa mất những kỹ năng ấy và thay vào đó bằng những phương thức học toán tinh vi hơn, một cách vô bổ và làm trẻ… "dốt” đi.
Xin lập lại: não của trẻ không là một cấu trúc rỗng mà ta phải làm đầy. Não của trẻ đã được công ty với những phương án đã được kiến trúc sẵn, khi tiếp cận với không gian, khi học,… trẻ chỉnh đốn những gì cháu đã có sẵn.
Về cách thức, cho các nghiên cứu của chính mình, ông Stanilas Dehaene không chỉ sử dụng hình ảnh não bộ qua máy quét IRMf mà song song còn sử dụng những trắc nghiệm tâm lý, quan sát sinh hoạt của mắt, …Phổ biến đối tượng tìm hiểu của ông là những trẻ có tuổi đời trong khoảng một vài bốn tuần tới tuổi trưởng thành. Những phân tích này hoàn toàn không vô ích cho trẻ và được các Hội đồng Đạo đức kỹ thuật – Comités d’Ethique – cho phép.
Thế phải dạy toán theo bí quyết nào?
Không chơi chữ nhưng ở đây, ông Stanilas Dehaene cho ba chữ chính với vần ION, tiếng Pháp, ở đuôi : émotion, attention, passion – tức thị xúc động, để ý, ham mê.
Xúc động, chú ý, mê say, mà ông Stanilas Dehaene nêu, không chỉ cần cho toán. Các chữ đó cũng có thể là những phương án cần cho mọi môn học.
Nhưng xin quay về điều toán và lý giải của ông Dehaene.
Tạo xúc động cho trẻ bằng những vật lạ, gây khám phá cho chúng. Không gian muôn hình vạn trạng, đầy vật lôi cuốn, không đến nổi phải đếm sao trên trời hay đếm lá trong rừng – dù là đếm lá trong rừng đã chi tiết hơn đếm sao – thầy giáo chỉ cần nhìn bao quanh mình là có đủ khí cụ để dạy toán ! Những hộp lớn nhỏ, những đũa dài ngắn, những nia thúng tròn, vuông…
Ở chỗ khác, các nhà tâm lý giáo dục đã nói rằng trẻ chỉ học và nhớ những gì có ý nghĩa với chúng.
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở xúc động thôi thì chưa đi quá cái kĩ năng cảm nhận. Nên phải tiếp diễn trong khoảng cảm kiếm được, dụng ý tìm hiểu để đi sâu hơn tham gia các định nghĩa toán – nghĩa là rời cụ thể đi vào lý thuyết, sử dụng cụ thể như thiết bị “khai quang quẻ” để đi tới lý thuyết. Sau đó, khi đã hấp thu lý thuyết, dùng lý thuyết, trở lại giải mã cho chi tiết, cho những trường thích hợp tương tự… Công đoạn này cần sự chú ý, bền chí. Xúc động lúc đầu thành “lực” để kéo theo kiên trì.
Để gây chú ý giáo viên cần ứng dụng những nguyên tắc rất dễ chơi như thông minh tối đa trong hình thức giới thiệu để bài học gần cận với học sinh để chúng dễ tiếp cận; như cấu trúc thành hệ thống có trật tự các dữ kiện hay các đòi hỏi, và nhất là không đưa ra cùng một lúc nhì sự kiện khác nhau hay nhì lệnh khác nhau, …
Đa số những “phương pháp khiến cho” này ông Stanilas Dehaene đã thực nghiệm và quan sát kết quả hăng hái qua máy quét cộng hưởng trong khoảng sinh hoạt (IRMf) não bộ của trẻ trong các tìm hiểu.
Còn mê mẩn là động cơ để vượt khó. Bên ta thì nói “Các con phố đi khó khăn, không khó khăn vì ngăn sông bí quyết núi, mà không dễ dàng vì lòng người ngại núi e sông”. Đam mê là lực để vượt núi qua sông. Phương án để cho trò ham mê không có đa dạng đường: ví như chúng nắm bắt việc làm cho của chúng, nếu chúng thấy lợi ích hay cái đẹp ở cuối chân trời, nếu chúng được hòa bình quyết định hướng đi của mình, … chúng sẽ băng đèo vượt suối.
Thầy giáo ở đó để truyền mê mẩn. Bằng những cách thức lý giải, bằng những tạo động lực tích cực, bằng cách thức cho trò cái gương về say đắm của bản thân, bằng cách thức vẽ tuyến đường cho trò đi…
Bấy nhiêu đó vẫn chưa đủ? Chuẩn y trò khiến cho sai là một cách thức thêm vào. Không chỉ có con chó của Pavlov nhân thức giảm thiểu cái bẫy có điện giật, không chỉ có con bồ câu của Skinner biết chừa những ô trống không có hạt ngô. Làm cho sai, nghĩa là thất bại, tự thân lả một hình phạt có ý nghĩa cho bất cứ người đi học nào và “sửa sai” cũng là một challenge cho trẻ, một động lực giúp trẻ vượt không dễ dàng để đi tới chiến thắng. Không cần giáo viên chen vào phạt hay cho điểm xếp hạng.
Trong dấu ngoặc, tấn công giá-đào tạo – évaluation-formation – để tiếp diễn học, nhân thức chỗ nào sai để hoàn thành, tốt hơn là đánh giá-chế tài – évaluation-sanction. Các nhà giáo dục đã nói đa dạng về vấn đề này.
Sau cùng, như một chuyên viên tâm thần vừa đủ, ở đây, ông Stanilas Dehaene thêm vào: hãy để cho trẻ ngủ đủ. Giấc ngủ như một … cách thức sư phạm vì giấc ngủ là một khí cụ rất tốt, có thể là tốt nhất, để bình phục kỹ năng trí tuệ, để giúp bố trí lại các kết nạp và để ổn định trí tưởng.
Khi trẻ có vấn đề ở lớp, không khẩn thiết học, không chú ý hay không ham mê mà các phương án đưa ra ở trên đều không đem đến kết quả thì ta phải xem thử giấc ngủ của em ấy có tốt không. Khó khăn ở trên hè phố có thể chỉ là biểu hiệu của một yếu tố nào đó về giấc ngủ.
Thay lời kết?
Dựa trên kỹ năng số học mà bất cứ trẻ nào cũng có, sử dụng tài năng ấy như điểm tựa, như bàn đạp để hoàn thành hiểu nhân thức về toán của trẻ. Không dạy trẻ tuân theo lô gích của người lớn mà để chúng tuân theo lô gích của chúng, những gì não chúng đã được cấu tạo. Chúng sẽ học nhanh hơn, dễ hơn, ít sai hơn. Giáo viên ở đó để cung ứng công cụ, để cho thêm động cơ và để giúp chúng gan góc bước tham gia trái đất trừu tượng đầy tượng trưng của Toán. Nhưng sau khi đã hiểu và vượt qua được những gian nan của các tượng trưng hạ tầng thì phần còn lại chỉ là … yêu thích.
Phần lớn những gì ông Stanilas Dehaene cho thấy, thật ra khoa giáo dục đã, gần hay xa, đề cập đến. Cái khác là ông Dehaene mang tới những bằng cớ của khoa thần kinh và khoa tâm lý của sự học, ít ra là cho thời điểm mà ta đang sống.
Theo Nguyễn Huỳnh Mai (Nhà phố hội học) Liège Bỉ/Dân Trí
Xem tại: tin tức nhanh nhất việt nam
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét