Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

Mối quan hệ giữa quyền của nả và quyền tự chủ Đại học

LTS: Trong những loạt bài trước Tiến sĩ Đặng Văn Định (Trưởng Ban phân tích và nghiên cứu chính sách- Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng vn) đã đi sâu phân tích về tự chủ Đại học về mặt nội dung, mô phỏng.

Ông đánh giá đây là một chủ trương khả thi, phù hợp với xu hướng phát hành của non sông; đương nhiên với mỗi loại hình trường sẽ có những chế độ tự chủ khác nhau.

Trong bài viết này, Tấn sĩ Đặng Văn Định đã có những phân tích dưới giác độ pháp lý về mối địa chỉ giữa quyền của nả và quyền tự chủ trong các mô phỏng trường Đại học để bạn đọc hiểu sâu hơn về vấn đề này.

Tòa biên soạn trân trọng gửi tới quý bạn đọc!

Theo luận điểm của Đảng tại Đại hội lần thứ XII thì quyền tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và hưởng lợi trong khoảng dùng của cải; trong khi đó, Luật Dân sự cho phép chủ chiếm hữu có quyền nắm giữ, quản lý tài sản.

Chính phủ, tại Nghị quyết số 77/NQ-CP bốn tuần 10/2014 (NQ-77) qui định quyền tự chủ Đại học bao gồm:

(i) Tự chủ về huấn luyện và tìm hiểu kỹ thuật - một số học giả còn gọi là tự chủ về học thuật (tự chủ ĐT, NC); (ii) tự chủ về tổ chức bộ máy, nhân lực (tự chủ TCBM-NS); (iii) tự chủ về tài chính (tự chủ TC).

Tự chủ Đại học là một chủ trương khả thi nhưng phổ quát trường bây giờ vẫn gặp gỡ phổ thông vướng bận bịu để chấp hành (Ảnh minh họa trên giaoduc.net.vn).

Cùng với mô phỏng Đại học công lập truyền thống (ĐHCL) từ những năm cuối của thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ trước tới nay chúng ta đã tạo dựng thêm những mô phỏng Đại học mới theo hướng tăng quyền tự chủ: mô phỏng Đại học Nước nhà (ĐHQG), mô hình Đại học vùng (ĐHV), mô hình trường Đại học Công lập tự chủ trọn vẹn theo NQ-77 (ĐHCL tự chủ), mô phỏng trường Đại học Tư thục (ĐHDL), mô hình trường Đại học Tư thục (ĐHTT), mô hình trường Đại học Tư thục không vì lãi (ĐHTT-KVLN).

Thử xem mối địa chỉ giữa quyền của nả và quyền tự chủ trong các mô phỏng trường Đại học của nước ta thế nào? Sẽ dễ ợt phân tích khi ta lập bảng dưới đây.

TT

Mô hình

Đầu cơ

Chiếm hữu

Tự chủ đào tạo, tìm hiểu

Tự chủ công ty bộ máy, nhân lực

Tự chủ vốn đầu tư

1

Đại học Công lập

Nhà nước

Một phần

Một phần

Một phần

Nhà nước quy định

2

Đại học Nước nhà

Nhà nước

Nhà nước

Trọn vẹn*

Đầy đủ

Nhà nước qui định

3

Đại học vùng

Nhà nước

Nhà nước

Phần nhiều

Phần nhiều

Nhà nước qui định

4

Đại học Công lập tự chủ theo NQ-77

Nhà nước

Nhà nước

Trọn vẹn

Đầy đủ

Nhà nước pháp luật

5

Đại học Tư thục

Tư nhân

Số đông

Một phần

Toàn vẹn

Trọn vẹn

6

Đại học Tư thục

Tư nhân

Cá nhân

Một phần

Toàn diện

Vừa đủ

7

Đại học Dân lập không vì lãi

Tư nhân

Cộng đồng

Một phần

Vừa đủ

Toàn diện

* Cụm trong khoảng “toàn vẹn” được hiểu theo qui định của Chính phủ  tại NQ-77

Nhận xét:

Thứ nhất, đầu tư tham gia giáo dục không chỉ có Nhà nước; sở hữu Nhà nước, chiếm hữu cộng đồng và chiếm hữu cá nhân đang có mặt trong các cơ sở vật chất giáo dục Đại học (GDĐH).

Thứ nhị, các hoạt động tập huấn, nghiên cứu được chấp hành thống nhất theo quy định của Bộ Giáo dục và Huấn luyện cho đầy đủ các hạ tầng giáo dục Đại học.

Cho tới đầu thập niên 90 của thế kỷ trước mới xuất hiện mô hình Đại học Non sông hoạt động theo quy giễu cợt riêng do Thủ tướng Chính phủ ban hành với quyền tự chủ cao về tập huấn, phân tích kỹ thuật.

Ý thức đó được ứng dụng cho 14 trường Đại học Công lập thuộc diện thí nghiệm tự chủ trọn vẹn theo NQ-77 hơn một năm nay.  Đối với loại việc này, năng lực quản trị học thuật thu được “niềm tin” của của tập đoàn quản lý Nhà nước hơn là vai trò đầu tư.

Thứ ba, quyền tự chủ về tổ chức bộ máy, nhân sự và tự chủ tài chính gắn kết với đầu tư và chiếm hữu của cải.

Về bình diện tự chủ tổ chức bộ máy, nhân sự những trường ngoài công lập  hoặc những trường Đại học Công lập tự chủ số đông  được toàn quyền.

Nói đông đảo bởi vài việc vẫn do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh hoặc công ty căn bản quyết định.

Về phương diện tự chủ tài chính, các trường ngoài công lập được toàn quyền, trong khi đó các cơ sở Đại học Công lập truyền thống phải hoạt động trong phạm vi quy định  ngặt nghèo của Nhà nước; đối với các trường Đại học Công lập tự chủ thì tất cả hoạt động vốn đầu tư do nhà trường quyết định, một số chi tiêu liên quan tới chế độ xã hội, tới đầu cơ công vẫn phải theo pháp luật của Nhà nước.

Thực tại cho thấy mô hình trường ngoài công lập chi phí hiệu quả hơn mô phỏng Đại học Công lập.

Đơn cử, mức học phí của phổ thông trường Đại học ngoài công lập thấp hơn hoặc xấp xỉ với mức học phí của các trường Đại học Công lập tự chủ nhưng họ tự lo được toàn thể kinh phí hoạt động trong khoảng A tới Z, kể cả việc tìm đất và xây trường.

Những gì nêu trên cho thấy sự phối hòa hợp giữa quyền của cải và quyền tự chủ đã kiến lập nên các mô hình Đại học.

Việc đặt chủ chiếm hữu đúng chỗ và trao quyền tự chủ hợp lý sẽ mạng lại những giá trị quý giá cho giáo dục.

Điều này gợi ý chúng ta phải tìm hiểu thấu đáo về mối quan hệ giữa đầu tư, chiếm hữu với quyền tự chủ khi hoàn thiện những mô hình Đại học tự chủ.

Tài liệu xem thêm:

[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, trang 104.

[2] Luật Dân sự 2005, Điều 184.


Xem thêm: tin tức nhanh hôm nay

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét