Jason Bourne là thương hiệu điệp báo đình đám nhất suốt 14 năm qua với 1,2 tỷ USD doanh thu trong khoảng bốn phần phim và vô kể lời khen trong khoảng giới chuyên ngành, khán giả.
Jason Bourne hình thành trên màn ảnh rộng tham gia năm 2002, muộn hơn hai thương hiệu gián điệp nức tiếng khác là 007 và Mission: Impossible. Dĩ nhiên, loạt phim này gấp rút gây tiếng vang và biến thành tượng đài số một trong dòng phim hành động điệp viên. Sau 14 năm lên màn bạc, tổng doanh thu các phim Bourne tới nay là 1,2 tỷ đô la Mỹ. Riêng phần ba – The Bourne Ultimatum – giành ba giải Oscar ở các hạng mục khoa học tham gia năm 2007.
Bourne được ca ngợi là đỉnh cao của hành động cơ bắp và đấu trí đầu thế kỷ 21.
Hình mẫu điệp viên chân thật của thế kỷ 21
Cũng như James Bond, Jason Bourne bắt nguồn từ văn chương. Anh hùng này được thông minh bởi nhà văn Robert Ludlum và sinh ra trong 12 cuốn tiểu thuyết. Tuy vậy, bộ phim trước tiên về Bourne là The Bourne Identity (2002) có nội dung chuyển thể rất ít từ nội dung sách. Về căn bản, đạo diễn Doug Liman đầy đủ tạo ra một câu chuyện mới. Hero chính của phim là Jason Bourne, một điệp viên tài hoa mất trí tưởng, phải đối mặt với ti tỉ quân địch nguy hiểm, bao gồm cả đơn vị sản xuất anh là CIA.
Điểm thu hút nhất của loạt phim Bourne là những pha hành động bài bản và thực tế. Các thế tiến công trong phim không hẳn là thích mắt nhưng thần tốc và rất hiệu quả, lấy ngẫu hứng trong khoảng Triệt Quyền Đạo, Krav Maga và Filipino Kali. Các hero cũng khôn khéo dùng đồ vật khiến cho vũ trang, thậm chí có cả một trận đấu bằng bút (The Bourne Identity) và bằng tạp chí (The Bourne Ultimatum).
Phim không có những môtíp sáo mòn như kẻ xấu bắn “trăm phát trăm hụt” hay anh hùng chính bình thản xông vào hang ổ địch càn quét. Thay vào đó, đội ngũ điệp viên luôn phải tính toán kỹ lưỡng từng hành động cũng như không gian bao quanh trước khi ra tay. Đặc điểm này biểu hiện rõ ở một trường đoạn trong The Bourne Identity khi Bourne hướng dẫn từ xa cho Marie khiến cho nhiệm vụ. Vì cô gái chẳng phải có thương hiệu, Bourne đã yêu cầu cặn kẽ cô phải nhớ số bước chân cũng như đếm kỹ số người trong phòng.
Các pha hành động trong phim về Bourne hạn chế kỹ xảo.
Khi ghi hình ngoài Bắc Mỹ, loạt phim Bourne cũng biểu hiện những góc nhìn sống động nhất chứ không phô trương những hình ảnh hoa mỹ. Một ví dụ là đoạn phim ở London trong The Bourne Ultimatum. Thay vì đưa lên phim những địa danh nổi tiếng thì đạo diễn chọn lựa quay ở những nơi bình thường, trong đó đặc biệt nhất là cảnh ở ga Waterloo. Đoàn phim đã khiến việc ở đây khi trạm xe lửa vẫn đang hoạt động, thậm chí còn có cảnh đa dạng người địa phương chỉ trỏ diễn viên.
Paul Greengrass là bậc thầy trong việc sử dụng shaky cam (máy quay rung lắc), trong đó người quay phim cầm camera trong tay và không sử dụng đến các công nghệ bất biến hình ảnh. Trong nhị phần Bourne mà ông thực hiện – The Bourne Supremacy và The Bourne Ultimatum, độ rung lắc tăng dần với sự hỗn loàn và bít tất tay, nhất là trong các cảnh hành động. Phương pháp quay này giúp người theo dõi cảm thấy như đang đi cùng cùng các nhân vật, dù nó làm vài người cảm thấy khó chịu.
Chất thực tế và thời sự trong kịch phiên bản
Một ưu điểm khác của loạt phim Bourne là phần kịch bản phức tạp và theo sát các yếu tố thời sự. Trong đó, một chủ đề lặp đi lặp lại là sự tha hóa của chính phủ. Kẻ phản diện trong phim không phải là những tên tỷ phú vĩ cuồng hay trùm tù nhân mà chính là những người có vai vế trong chính quyền. Bằng phổ thông cách, bè cánh này đã dựng nên các tổ chức tối mật để tuyển dụng những người như Bourne đi khiến nhiệm vụ gian tà.
Trong phần năm, các nhà khiến cho phim bàn tới việc ăn trộm thông tin và những lỗ hổng trong hệ thống bảo mật, vốn là một chủ đề nóng bỏng tiên tiến. Điều này làm cho khán giả cảm thấy không phải như đang xem phim hành động mà được chứng kiến một thế giới thật của những tổ chức bí mật.
Một nhân tố thu hút là chính Jason Bourne góp phần khiến cho hình tượng James Bond phải đổi mới. Khi Bourne ra mắt, loạt phim về 007 đang đi vào ngõ cụt với Die Another Day (2002) bị chê cười hết lời. Các nhà đóng gói quyết định xây dựng một Bond mới do Daniel Craig biểu hiện, thô ráp hơn và thực tiễn hơn. Định hướng này đã được duy trì suốt bốn phim gần nhất. Tầm ảnh hưởng của Bourne cũng dễ ợt kiếm được thấy ở một vài phim khác như các phim: Salt, Haywire, Hanna và Unknown.
Tăm tiếng đạo diễn Paul Greengrass và a ma tơ Matt Damon gắn liền với loạt phim.
Siêu điệp báo viên tái xuất mùa hè 2016
Dù nhãn hàng Bourne thắng lợi là vậy, nội bộ đoàn phim lại cực kì phức hợp. Paul Greengrass nức danh vì phong cách “vừa khiến vừa tính” trên trường quay. Đối với ông, kịch phiên bản chỉ là những trang giấy và tới khi quay, ông luôn có những biến tấu theo ý bản thân mình. Điều này khiến đạo diễn tranh chấp sâu sắc với biên kịch của ba phim trước tiên về Bourne – ông Tony Gilroy.
Đến The Bourne Legacy (2012), Greengrass không góp mặt và Tony Gilroy đích thân khiến cho đạo diễn. Vốn là bạn thân của Greengrass, nam diễn viên chính Matt Damon khước từ tham gia. Bản thân Damon cũng từng chỉ trích thậm tệ Gilroy vì kịch phiên bản gốc The Bourne Ultimatum. Anh nghĩ là phim này thắng lợi vì Greengrass đã tự sản xuất thêm, còn bạn dạng thảo mà Gilroy đưa thậm chí “không đọc nổi”.
Sau thất bại của The Bourne Legacy, Tony Gilroy phải rời khỏi loạt phim Bourne. Trong tập phim mới nhất – Jason Bourne – Paul Greengrass quay lại và giữ cả hai vai trò đạo diễn và biên kịch, còn Matt Damon một lần nữa thủ vai chính. Ở tuổi 45, nam diễn viên phải trải qua công đoạn tập dượt khốc liệt để có thể lực vào vai. Câu chuyện trong phần này hé lộ thêm những kín đáo về thân thế của Jason Bourne cũng như phụ thân anh. Cái chết của người thân phụ đã khiến Bourne nỗ lực tham gia chương trình đào tạo thành điệp báo viên kiêm sát thủ của CIA. Sự xuất hiện của bông hồng Thụy Điển – Alicia Vikander – tạo điểm thu hút mới cho phim bên cạnh một Matt Damon gây tuyệt vời ở những cảnh diễn nội tâm.
Jason Bourne (Siêu điệp báo Jason Bourne) ra mắt trong khoảng ngày 29/7.
Theo Vnexpress
Xem thêm: áo khoát nữ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét